Cả chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong ngành đường thủy nội địa hiện vẫn đang ở giai đoạn đầu, thiếu nguồn lực và chưa có cơ chế thúc đẩy đủ mạnh. Do đó, nếu không có chính sách hỗ trợ phù hợp, lộ trình chuyển đổi rõ ràng và sự tham gia của các doanh nghiệp lớn trong chuỗi logistics, lĩnh vực đường thủy nội địa sẽ khó đạt được mục tiêu hiện đại hóa, giảm phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Còn nhiều vướng mắc….
Theo thống kê của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam – Bộ Xây dựng, hiện tại vẫn còn khoảng 60% phương tiện thủy nội địa vẫn đang sử dụng động cơ cũ, hiệu suất thấp, tiêu hao nhiều nhiên liệu và phát thải khí thải vượt chuẩn. Rồi còn phần lớn các đơn vị vận tải thủy nội địa vẫn hoạt động theo mô hình truyền thống, quy mô nhỏ, năng lực công nghệ thấp.
Theo thống kê cũng chỉ có khoảng 20% tàu hàng lớn được trang bị GPS hoặc phần mềm giám sát hành trình. Nghĩa là mới chỉ có 10 – 15% phương tiện thủy nội địa được giám sát bằng công nghệ số. Số còn lại chưa có các thiết bị điều hướng hiện đại.

Một tồn tại khác, những năm gần đây đội tàu VR-SB dù phát triển nhanh nhưng vẫn thiếu các tiêu chuẩn xanh, chưa có yêu cầu bắt buộc về thiết bị giảm phát thải và chưa gắn với lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch. Việc thay thế động cơ tiết kiệm nhiên liệu hoặc chuyển đổi sang các loại nhiên liệu xanh như nhiên liệu sinh học, LNG, hybrid hay điện hóa diễn ra chậm và nhỏ lẻ.
Về hạ tầng, chỉ khoảng 15% cảng thủy nội địa có ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành. Phần lớn chưa có sự liên thông dữ liệu với cảng biển và đường bộ. Các cảng thủy nội địa, bến hàng hóa và kho bãi hiện nay đa số chưa được trang bị hệ thống quản lý cảng tự động, chưa triển khai e-port hoặc hệ thống chia sẻ thông tin hàng hóa theo chuẩn EDI như trong lĩnh vực hàng hải.
Cũng theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, việc huyển đổi xanh trong hạ tầng cảng, bến cũng gặp nhiều khó khăn do hầu hết các cảng thủy nội địa chưa đầu tư thiết bị bốc xếp điện hóa, chưa ứng dụng năng lượng tái tạo (như điện mặt trời trên mái kho bãi), chưa triển khai thu gom nước dằn tàu hoặc xử lý chất thải đạt chuẩn môi trường. Hoặc, thực trạng có rất ít doanh nghiệp sử dụng các ứng dụng thương mại điện tử, nền tảng quản lý đội tàu, phần mềm tối ưu hành trình hoặc quản lý nhiên liệu tiên tiến.
Trong công tác quản lý Nhà nước, hiện mới chỉ có một số cơ quan quản lý tuyến, cảng vụ và một số doanh nghiệp lớn triển khai hệ thống quản lý dữ liệu điện tử, số hóa hồ sơ phương tiện, cấp phép trực tuyến hoặc giám sát hành trình. Công tác quản lý luồng tuyến, đăng kiểm và bảo đảm an toàn giao thông vẫn chủ yếu dựa trên các quy trình thủ công hoặc bán thủ công, gây hạn chế trong chia sẻ dữ liệu, phối hợp liên ngành và ra quyết định theo thời gian thực.
Ưu tiên chính sách ưu đãi đầu tư đóng tàu mới
Để đẩy nhanh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh lĩnh vực ngành, dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ xây dựng dự thảo Đề án tổng thể phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ vận tải đường thủy nội địa giai đoạn 2026 – 2035 trình Chính phủ phê chuẩn. Theo đó, Bộ Xây dựng đề xuất nhiều phương án nhằm hướng tới phát triển vận tải thủy xanh, phù hợp với yêu cầu trong bối cảnh mới.
Trong đó, giải pháp trọng tâm là xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia về đổi mới đội tàu đường thủy nội địa, với các hợp phần như: hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị phục vụ đóng mới phương tiện; giảm phí, lệ phí đăng kiểm, phí ra vào cảng, bến. Đồng thời, định hướng thay thế dần đội tàu nhỏ, lạc hậu bằng đội tàu container và tàu sông – biển (VR-SB) thế hệ mới. Ban hành cơ chế tín dụng dài hạn với lãi suất ưu đãi cho các dự án đóng mới tàu container, tàu chuyên dụng, tàu VR-SB và tàu sử dụng nhiên liệu sạch; cho phép thế chấp bằng chính phương tiện hình thành trong tương lai.
Đặc biệt, Bộ Xây dựng đề xuất xây dựng và ban hành lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh cho ngành vận tải thủy nội địa, trong đó xác định rõ các mục tiêu và mốc thời gian cụ thể. Cụ thể, từ năm 2028, tất cả các tàu đóng mới phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro V; từ năm 2035, khuyến khích chuyển đổi sang sử dụng LNG hoặc điện trên các tuyến vận tải chính. Cùng với đó là việc quy hoạch mạng lưới hạ tầng cung cấp năng lượng sạch, tích hợp vào quy hoạch phát triển cảng, bến việc xây dựng các trạm sạc điện công suất lớn, các điểm cung cấp LNG và tiến tới hydro tại các cảng chính, các tuyến vận tải container trọng điểm.
Hoặc, việc khẩn trương nghiên cứu và ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về “Cảng xanh” cũng được đề xuất nhằm làm cơ sở đánh giá, công nhận các cảng đạt chuẩn, dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, hệ thống cung cấp điện bờ (shore power), quản lý chất thải và ứng dụng công nghệ số.
Ngoài ra, dự thảo đề án cũng kiến nghị triển khai các chính sách ưu đãi đột phá cho đầu tư xanh, bao gồm cấp tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư tàu sử dụng LNG, hybrid hoặc điện; áp dụng mức ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư phát triển hạ tầng cảng xanh./.
Đoàn Lanh


